Thần chú dài và được xem là quan trọng bậc nhất trong Thiền môn — nguồn gốc từ Kinh Lăng Nghiêm, cấu trúc 5 hội và ý nghĩa tu tập.
Chú Lăng Nghiêm, tên đầy đủ là Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Thần Chú, là bài chú trích từ Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Śūraṅgama Sūtra). Đây là một trong những thần chú dài và được xem trọng bậc nhất trong Thiền môn Bắc truyền, thường được chư Tăng Ni trì tụng vào thời công phu khuya.
Theo kinh, khi Tôn giả A Nan bị nạn Ma Đăng Già dùng chú thuật mê hoặc, Đức Phật đã sai Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi đem thần chú này đến hộ trì, giúp A Nan thoát nạn và tỉnh ngộ. Từ đó, Chú Lăng Nghiêm được xem là thần chú có công năng phá trừ tà mị, hộ trì người tu học vững tâm trên đường đạo.
Chú Lăng Nghiêm được chia làm năm hội (đoạn), mỗi hội quy về một phương hướng và một vị Phật, Bồ Tát hộ trì khác nhau, tượng trưng cho sự nhiếp phục các phiền não, tà kiến ở khắp mười phương. Đây là lý do bài chú có độ dài đáng kể so với các thần chú phổ biến khác như Chú Đại Bi.
Trì tụng Chú Lăng Nghiêm được xem là phương tiện giúp hành giả giữ vững chánh niệm, xa lìa tà kiến, ma chướng trên đường tu, đồng thời nuôi dưỡng định lực và trí tuệ. Cốt lõi vẫn là sự tu tập giới – định – tuệ song hành, không xem thần chú như một phép thuật tách rời việc chuyển hóa tâm.
Vì bài chú khá dài, người mới nên tìm bản văn hoặc bản có phiên âm rõ ràng từ kinh sách, tụng theo tốc độ vừa phải để nhớ mặt chữ trước khi tụng thuộc lòng. Có thể tụng vào thời công phu khuya hoặc bất kỳ lúc nào thuận tiện, giữ tâm cung kính và đều đặn.
Nam Mô Lăng Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
Diệu trạm tổng trì bất động tôn
Thủ Lăng Nghiêm Vương thế hi hữu
Tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng
Bất lịch tăng kỳ hoạch pháp thân
Nguyện kim đắc quả thành bảo vương
Hoàn độ như thị hằng sa chúng
Tương thử thâm tâm phụng trần sát
Thị tắc danh vị báo Phật ân
Phục thỉnh Thế Tôn vị chứng minh, Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập
Như nhứt chúng sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ nê hoàn
Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi, hi cánh thẩm trừ vi tế hoặc
Linh ngã tảo đăng vô thượng giác, ư thập phương giới tọa đạo tràng
Nam mô thường trụ thập phương Phật
Nam mô thường trụ thập phương Pháp
Nam mô thường trụ thập phương Tăng
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam mô Kim Cang Tạng Bồ Tát
1. Nam mô tát đắt tha
2. Tô già đa da
3. A ra ha đế
4. Tam miệu tam bồ đà tỏa
5. Nam mô tát đắt tha
6. Phật đà cu tri sắc ni sam
7. Nam mô tát bà
8. Bột đà bột địa
9. Tát đà bệ tệ
10. Nam mô tát đa nẫm
11. Tam miệu tam bồ đà
12. Cu tri nẫm
13. Ta xà ra bà ca
14. Tăng già nẫm
15. Nam mô lô kê a la hán đa nẫm
16. Nam mô tô lô đa ba na nẫm
17. Nam mô ta yết rị đà dà di ni nẫm
18. Nam mô lô kê tam miệu dà đa nẫm
19. Tam miệu dà bà ra
20. Để bà đa na nẫm
21. Nam mô đề bà ly sắc nỏa
22. Nam mô tất đà da
23. Tỳ địa da
24. Đà ra ly sắc nỏa
25. Xá ba noa
26. Yết ra ha
27. Ta ha ta ra ma tha nẫm
28. Nam mô bạt ra ha ma ni
29. Nam mô nhôn đà ra da
30. Nam mô bà dà bà đế
31. Lô đà ra da
32. Ô ma bát đế
33. Ta hê dạ da
34. Nam mô bà dà bà đế
35. Na ra dạ noa da
36. Noa da
37. Bàn dà ma ha tam mộ đà da
38. Nam mô tất yết rị đa da
39. Nam mô bà dà bà đế
40. Ma ha ca ra da
41. Địa rị bác lạc na
42. Dà ra tỳ đà ra
43. Ba noa ca ra da
44. A địa mục đế
45. Thi ma xá na nê
46. Bà tất nê
47. Ma đắt rị dà noa
48. Nam mô tất yết rị đa da đa
49. Nam mô bà dà bà đế
50. Đa tha dà đa câu ra da
51. Nam mô bát đầu ma câu ra da
52. Nam mô bạc xà ra câu ra da
53. Nam mô ma ni câu ra da
54. Nam mô dà xà câu ra da
55. Nam mô bà dà bà đế
56. Đế rị trà
57. Du ra tây na
58. Bà ra ha ra noa ra xà da
59. Đa tha dà đa da
60. Nam mô bà dà bà đế
61. Nam mô a di đa bà da
62. Đa tha dà đa da
63. A ra ha đế
64. Tam miệu tam bồ đà da
65. Nam mô bà dà bà đế
66. A sô bệ da
67. Đa tha dà đa da
68. A ra ha đế
69. Tam miệu tam bồ đà da
70. Nam mô bà dà bà đế
71. Bệ xa xà da
72. Câu lô phệ trụ rị da
73. Bác ra bà ra xà da
74. Đa tha dà đa da
75. Nam mô bà dà bà đế
76. Tam bổ sư bỉ đa
77. Tất lân nại ra lạc xà da
78. Đa tha dà đa da
79. A ra ha đế
80. Tam miệu tam bồ đà da
81. Nam mô bà dà bà đế
82. Xá kê dã mẫu na duệ
83. Đa tha dà đa da
84. A ra ha đế
85. Tam miệu tam bồ đà da
86. Nam mô bà dà bà đế
87. Lạc đát na kê đô ra xà da
88. Đa tha dà đa da
89. A ra ha đế
90. Tam miệu tam bồ đà da
91. Đế biều
92. Nam mô tát yết rị đa
93. Ế đàm bà dà bà đa
94. Tát đắc tha dà đô sắc ni sam
95. Tát đắc đa bát đắc lam
96. Nam mô a bà ra thị đam
97. Bát ra đế
98. Dương kỳ ra
99. Tát ra bà
100. Bộ đa yết ra ha
101. Ni yết ra ha
102. Yết ca ra ha ni
103. Bạt ra bỉ địa da
104. Sắt đà nê
105. A ca ra
106. Mật rị trụ
107. Bát rị đác ra da
108. Nánh yết rị
109. Tát ra bà
110. Bàn đà na
111. Mục xoa ni
112. Tắt ra bà
113. Đột sắc tra
114. Đột tất pháp
115. Bát nái nái
116. Phạt ra ni
117. Giả đô ra
118. Thất đế nẫm
119. Yết ra ha
120. Ta ha tát ra nhã xà
121. Tỳ đa băng ta na yết rị
122. A tra băng xá đế nẫm
123. Na xoa sát đác ra nhã xà
124. Bà ra tát đa na yết rị
125. A sắc tra nẫm
126. Ma ha yết ra ha nhã xà
127. Tỳ đa băng ta na yết rị
128. Tát bà xá độ lô
129. Nễ bà ra nhã xà
130. Hô lam đột tất pháp
131. Nan giá na xá ni
132. Bỉ sa xà
133. Tất đác ra
134. A kiết ni
135. Ô đà ca ra nhã xà
136. A bát ra thị đa câu ra
137. Ma ha bác ra chiến trì
138. Ma ha điệp đa
139. Ma ha đế xà
140. Ma ha thuế đa xà bà ra
141. Ma ha bạt ra bàn đà ra
142. Bát tất nê
143. A rị da đa ra
144. Tỳ rị câu tri
145. Thệ bà tỳ xà da
146. Bạt xà ra ma lễ đế
147. Tỳ xà lô đa
148. Bột đằng dàng ca
149. Bạt xà ra chế hắt na a giá
150. Ma ra chế bà
151. Bạt xà ra chát đa
152. Bạt xà ra thiện trì
153. Tỳ xà da
154. Bạt xà ra đà nà
155. Bệ đế dà
156. Bổ thị đa
157. Tô ma lô ba
158. Ma ha thuế đa
159. A rị da đa ra
160. Ma ha bà ra a bắc ra
(Theo bản 160 câu đầu Đệ Nhất Hội do bạn đọc cung cấp; toàn bộ Chú Lăng Nghiêm gồm 5 hội, khoảng 427 câu và 2.620 chữ — phần còn lại nên tụng theo kinh sách chính thức tại chùa hoặc thiền môn nhật tụng.)
Bản Hán Việt phổ biến có khoảng hơn 400 câu, chia thành năm hội, dài hơn nhiều so với Chú Đại Bi hay Chú Dược Sư.
Có thể trì tụng nếu có duyên và thời gian tìm hiểu bản văn đầy đủ; người mới có thể bắt đầu với các thần chú ngắn hơn trước khi tiến đến bài chú dài này.
Vì gắn liền với Kinh Lăng Nghiêm — bộ kinh bàn sâu về định lực, chân tâm và con đường tu chứng — nên bài chú được xem là pháp hộ trì quan trọng cho người tu thiền.
Lưu ý: Nội dung mang tính tham khảo. Với văn khấn và kinh chú, nên đối chiếu thêm với bản chùa hoặc gia đình bạn thường dùng; điều cốt yếu khi hành trì là tâm thành kính.
